Quyển 2 - Quy Y Tam Bảo (tái bản)

CHƯƠNG IV – Lễ Thọ Phép Quy-Y Tam-Bảo

By Nền Tảng Phật Giáo

July 08, 2020

Lễ Thọ Phép Quy-Y Tam-Bảo

Lễ thọ phép quy-y Tam-bảo là lễ tất yếu đầu tiên đối với các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật Gotama.

*    Để trở thành sa-di, giới-tử dưới 20 tuổi cần phải thành-tựu lễ thọ phép quy-y Tam-bảo,

*   Để trở thành tỳ-khưu, giới-tử trên 20 tuổi đã thành- tựu lễ thọ phép quy-y Tam-bảo xong, tiếp theo xin xuất gia trở thành tỳ-khưu,

*   Để trở thành người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, người ấy cần phải thành-tựu lễ thọ phép quy-y Tam-bảo.

Tuy nhiên, trong trường-hợp đặc biệt vị tỳ-khưu được Đức-Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu theo cách gọi “Ehi Bhikkhu!” thì không qua lễ thọ phép quy-y Tam-bảo.

Nghi Thức Lễ Thọ Phép Quy-Y Tam-Bảo Và Ngũ-Giới

*   Thời xưa, theo kinh sách ghi lại, người ta đến lắng nghe Đức-Phật thuyết-pháp xong, rồi phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, tự nguyện kính xin quy-y Tam- bảo, có Đức-Phật chứng minh và kính xin Đức-Phật công nhận:

*   Nếu là người nam thì kính xin Đức-Phật công nhận là cận-sự-nam (upāsaka).

* Nếu là người nữ thì thì kính xin Đức-Phật công nhận là cận-sự-nữ (upāsikā) đã quy-y Tam-bảo kể từ đó cho đến trọn đời, trọn kiếp. Còn ngũ-giới là thường giới của con người.

Còn bát-giới uposathasīla, cửu-giới uposathasīla, … thì người cận-sự-nam, cận-sự-nữ tự nguyện thọ trì giới trong những ngày giới hằng tháng riêng biệt.

*     Thời nay, lễ thọ phép quy-y Tam-bảo phổ thông thường theo sau là thọ trì ngũ-giới, hoặc bát-giới uposathasīla, hoặc cửu-giới uposathasīla, tuỳ theo ý- nguyện số đông người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ.

Cho nên, lễ xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới hoặc bát giới, v.v… cùng một lúc đã trở thành một nghi lễ phổ thông theo truyền thống trong các nước Phật-giáo Theravāda.

Lễ thọ phép quy-y Tam-bảo có một tầm rất quan trọng * đối với người nào chưa từng thọ phép quy-y Tam-bảo, nay thành tựu phép quy-y Tam-bảo xong, ngay khi ấy, người ấy chính thức trở thành người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc cận-sự-nữ (upāsikā) đã quy-y Tam-bảo, kể từ lúc đó cho đến trọn đời.

* Đối với người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc cận-sự- nữ (upāsikā) đã từng thành tựu phép quy-y Tam-bảo, nay mỗi lần xin thọ phép quy-y Tam-bảo, thì lại làm cho phép quy-y Tam-bảo càng thêm vững chắc, làm tăng trưởng đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo trong kiếp hiện- tại, và để tạo phước duyên cho những kiếp vị-lai.

Và thọ trì ngũ-giới là thường-giới (niccasīla) của người tại gia nói chung, đối với người cận-sự-nam, cận- sự-nữ nói riêng. Người cận-sự-nam, cận-sự-nữ giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn hoàn toàn, giúp hỗ trợ phép quy-y Tam-bảo được hoàn toàn trong sạch, không bị ô nhiễm do bởi phiền-não.

Do đó, xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ- giới cùng một lúc là hai phước-thiện rất cao quý.

Lễ Sám Hối Tam-Bảo

Lễ sám hối Tam-bảo là một điều rất cần thiết trước khi xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới, v.v…

Trong đời sống hằng ngày, đối với hạng phàm-nhân còn có đầy đủ phiền-não, nên thân, khẩu, ý khó tránh khỏi phạm những sai lầm với Tam-bảo, do cố ý hoặc vô ý. Nếu đã phạm lỗi lầm rồi, thì thân, khẩu, ý không còn trong sạch, do bị ô nhiễm bởi phiền-não.

Muốn cho thân, khẩu, ý được trong sạch thanh-tịnh, thì chỉ có cách sám hối tội-lỗi của mình, rồi cố gắng giữ gìn, không để tái phạm nữa. Khi đại-thiện-tâm phát sinh có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, khi ấy nên xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới, v.v…

Cũng như theo lẽ thường, người ta muốn mặc một bộ quần áo mới đẹp sang trọng, trang điểm những đồ trang sức quý giá như kim cương, hột xoàn, ngọc maṇi, … Điều trước tiên, người ta cần phải tắm rửa cho thân hình sạch sẽ, sau đó, mới mặc quần áo mới đẹp sang trọng,  rồi trang điểm những đồ trang sức quý giá ấy.

Đó là thuộc về phần thân bên ngoài.

Còn về phần tâm bên trong, muốn thỉnh Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo ngự vào trong tâm của mình, điều trước tiên, phải nên làm cho tâm của mình trở nên trong sạch thanh-tịnh, bằng cách sám hối những lỗi lầm với Tam-bảo. Khi đại-thiện-tâm trở nên trong sạch thanh-tịnh, khi ấy mới nên xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới, v.v…

Theo truyền thống của người Myanmar (Miến-Điện), từ khi còn nhỏ, cha mẹ đã dạy con học thuộc lòng bài sám hối Tam-bảo, cho nên trong những buổi lễ dù nhỏ, dù lớn thuộc về Phật-giáo, như lễ làm phước-thiện bố-thí, lễ nghe thuyết pháp, ngày giới “uposathasīla” hằng tháng, thậm chí kể cả hằng ngày, lễ bái Tam-bảo, …

Trước tiên, mọi người đều đồng thanh đọc bài sám  hối Tam-bảo, tiếp theo mới xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới hoặc bát-giới uposathasīla, hoặc cửu-giới uposathasīla, … trở thành một phong tục tập quán theo truyền thống từ xưa cho đến nay.

Nhận xét thấy truyền thống lễ sám hối Tam-bảo của người Myanmar (Miến-Điện) đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc cả trong kiếp hiện-tại lẫn trong kiếp vị-lai. Do đó, người cận-sự-nam, cận-sự-nữ có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, nên bắt chước để trở thành một truyền thống tốt lành trong Phật-giáo.

Bài Sám Hối Tam-Bảo

Trong các buổi lễ dù nhỏ, dù lớn, có một người hoặc nhiều người hết lòng thành kính đảnh lễ Tam-bảo xong, trước sự hiện diện của chư tỳ-khưu Tăng (hoặc một vị tỳ-khưu), tất cả mọi người đều đồng thanh đọc bài sám hối Tam-bảo.

Bài sám hối của người Myanmar đại ý như sau:

–     Kính bạch Ngài Đại-đức, xin phép Ngài Đại-đức, chúng con xin thành tâm sám hối những lỗi lầm do thân hành ác, khẩu nói ác, ý nghĩ ác của chúng con đã xúc phạm đến Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức- Tăng-bảo cao thượng, đến ông bà, cha mẹ, Thầy tổ, những bậc ân nhân tôn kính, từ trước đến hiện-tại này. Từ nay về sau, chúng con cố gắng hết sức mình, thu thúc giữ gìn không để tái phạm.

Kính xin Ngài Đại-đức chứng minh và nhận biết những lỗi lầm, mà chúng con thành tâm sám hối, do nhờ tác-ý trong đại-thiện-tâm sám hối này hỗ-trợ cho chúng con được thành-tựu:

*   Cầu mong được tránh khỏi tái-sinh bốn cõi ác-giới, không gặp phải ba nạn tai, không sinh trong tám cõi bất lợi, không gặp năm nạn bại-sản trong cả mọi thời, mọi kiếp tử sinh luân-hồi.

*   Cầu mong sớm chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận mọi tham-ái, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

Nội Dung Bài Sám Hối Tam-Bảo

Sự ích lợi của sự sám hối lỗi lầm, cốt để ngăn mọi ác- nghiệp không có cơ hội cho quả, để cho mọi thiện- nghiệp có cơ hội cho quả.

Cầu mong sớm chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.

Giải thích:

*    Thân-hành-ác có 3 điều là sát-sinh, trộm-cắp, tà-dâm.

*    Khẩu-nói-ác có 4 điều là nói dối, nói lời đâm thọc chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích.

*    Ý-nghĩ-ác có 3 điều là tâm tham-lam, tâm thù-hận, tâm tà-kiến.

*    4 cõi ác-giới là địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh.

*   3 nạn tai là nạn bom đạn chiến tranh, nạn dịch bệnh truyền nhiễm, nạn chết đói.

*    8 cõi bất lợi là chúng-sinh ở trong 8 nơi không thể thực-hành phạm-hạnh cao thượng, không thể chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn đó là:

1- Chúng-sinh ở trong cõi địa-ngục.

2- Chúng-sinh là loài súc-sinh.

3-   Chúng-sinh là loài ngạ-qủy.

4-   Phạm-thiên ở trong cõi sắc-giới Vô-tưởng-thiên, và phạm-thiên phàm ở trong cõi vô-sắc-giới.

5-   Dân chúng sống vùng hẻo lánh không có Phật-giáo.

6-   Người sinh trưởng trong gia đình ngoại đạo tà-kiến.

7- Người khuyết tật câm-điếc.

8- Người có trí-tuệ ở nơi không gặp được Đức-Phật hoặc chư tỳ-khưu Tăng.

*   5 nạn bại-sản:

1- Nạn nước lụt phá hủy của cải tài sản.

2- Nạn lửa cháy thiêu hủy của cải tài sản.

3- Nạn kẻ trộm cướp chiếm đoạt của cải tài sản.

4- Nạn Vua tàn bạo chiếm đoạt của cải tài sản.

5- Nạn con cái hư đốn làm tiêu tan của cải tài sản, …

Lời Chúc Lành

Sau khi mọi người cận-sự-nam, cận-sự-nữ xin phép làm lễ sám hối Tam-bảo xong, Ngài Đại-Trưởng-lão thay mặt chư tỳ-khưuTăng chúc lành đến họ.

Lời chúc lành của mỗi Ngài Đại-Trưởng-lão (hoặc Ngài Trưởng-lão, hoặc vị tỳ-khưu) về lời lẽ không giống nhau, song về ý thì đều giống nhau. Quý Ngài thường cầu chúc cho tất cả người cận-sự-nam, cận-sự-nữ được thành tựu như ý mong ước của mình.

Chư Phật Độc-Giác thường cầu chúc rằng:

Icchitaṃ patthitam tumhaṃ,

Khippameva samijjhatu.

Điều mong ước, ý nguyện của các con,

Cầu chúc sớm được thành tựu như ý.

Mọi người cận-sự-nam, cận-sự-nữ đều hoan hỷ đồng thanh nói lên lời:

Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay!

Lễ Xin Thọ Phép Quy-Y Tam-Bảo Và Ngũ-Giới

Tiếp theo người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ đọc lời xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới như sau:

–   Ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha, pañcasīlaṃ dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me, Bhante.

–       Dutiyampi, ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha, pañcasīlaṃ dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me, Bhante.

–      Tatiyampi, ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha, pañcasīlaṃ dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me, Bhante.

Nghĩa:

–    Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, con xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới. Kính bạch Ngài, kính xin Ngài có tâm từ tế độ hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới cho con.

–    Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, con xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới. Kính bạch Ngài, kính xin Ngài có tâm từ tế độ hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới cho con, lần thứ nhì.

–    Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, con xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới. Kính bạch Ngài, kính xin Ngài có tâm từ tế độ hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới cho con, lần thứ ba.

Trên đây là nghi thức lễ xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới phổ thông trong nước Myanmar (Miến-Điện) đã trở thành truyền thống từ xưa cho đến nay.

Phật-Giáo Nguyên-Thủy Tại Việt-Nam

Phật-giáo Nguyên-thủy Theravāda tại Viêt-Nam do Ngài Đại-Trưởng-lão Hộ-Tông là Vị Sơ Tổ có công lớn cùng với chư Đại-Trưởng-lão khác. Ngài Sơ Tổ đã dịch và ấn hành nhiều sách, nhiều kinh tụng hằng ngày cho sa-di, tỳ-khưu, cận-sự-nam, cận-sự-nữ.

Trong những bài kệ lễ bái Tam-bảo, có 3 bài kệ sám hối Tam-bảo và có 3 bài kệ khẳng định không quy-y nương nhờ nơi nào khác, chỉ có quy-y nương nhờ nơi Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo mà thôi.

Những bài kệ này có thể đem sử dụng vào trong trường hợp trước khi thọ phép quy-y Tam-bảo và sau khi thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới hoặc bát-giới uposatha- sīla, hoặc cửu-giới uposathasīla thì thật là hợp thời.

*  Ba Bài Kệ Sám Hối Tam-Bảo

Trước khi xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới (hoặc bát-giới uposathasīla, hoặc cửu-giới uposathasīla,

…) các người cận-sự-nam, cận-sự-nữ nên đọc 3 bài kệ sám hối Tam-bảo: sám hối Đức-Phật-bảo, sám hối Đức- Pháp-bảo, sám hối Đức-Tăng-bảo, để làm cho tâm của mình trở nên trong sạch thanh-tịnh, rồi xin thọ phép quy- y Tam-bảo và ngũ-giới thì thật là hợp thời.

*  Ba Bài Kệ Khẳng Định Quy-Y Tam-Bảo

Và sau khi đã thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới,… xong rồi, các người cận-sự-nam, cận-sự-nữ nên đọc 3 bài kệ khẳng định không có quy-y nương nhờ nơi nào khác, mà chỉ có quy-y nương nhờ nơi Đức-Phật-bảo, quy-y nương nhờ nơi Đức-Pháp-bảo, quy-y nương nhờ nơi Đức-Tăng-bảo mà thôi, để làm cho tăng trưởng đức- tin càng thêm vững chắc, thì cũng thật là hợp thời.

Nghi Thức Lễ Thọ Phép Quy-Y Tam-Bảo Và Ngũ-Giới

Trong các buổi lễ dù nhỏ, dù lớn, dù có một người hoặc nhiều người, trước sự hiện diện chứng minh của Ngài Đại-Trưởng-lão, hoặc Ngài Trưởng-lão, hoặc vị tỳ- khưu, sa-di, hoặc người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ là bậc thiện-trí hiểu biết giáo-pháp của Đức-Phật Gotama, hoặc trước cội Đại-Bồ-đề, hoặc trước ngôi Bảo-tháp, hoặc trước bàn thờ Đức-Phật,…

Trước tiên, thành kính đảnh lễ Tam-bảo xong, rồi các người cận-sự-nam, cận-sự-nữ đồng thanh đọc ba bài kệ sám hối Tam-bảo.

1-   Bài Kệ Sám Hối Đức-Phật-Bảo

Uttamaṅgena vande’haṃ,

(Út-tá-măn-ghê-ná voanh-đê-hăng)

Pādapaṃsuṃ varuttamaṃ.

(Pa-đá-păng-xung vóa-rút-tá-măng)

Buddhe yo khalito doso,

(Bút-thê dô khá-lí-tô đô-xô)

Buddho khamatu taṃ mama.(*)

(Bút-thô khá-má-tú tăng má-má)

Nghĩa:

Con hết lòng thành kính cúi đầu đảnh lễ,

Bụi trần dưới bàn chân cao thượng Đức-Phật,

Lỗi lầm nào con đã phạm đến Đức-Phật-bảo,

Cúi xin Đức-Phật-bảo xá tội ấy cho con.

(đảnh lễ một lạy)

2-   Bài Kệ Sám Hối Đức-Pháp-Bảo

Uttamaṅgena vande’haṃ,

(Út-tá-măn-ghê-ná voanh-đê-hăng)

Dhammañca duvidhaṃ varaṃ.

(Thăm-măn-chá đú-ví-thăng vóa-răng)

Dhamme yo khalito doso,

(Thăm-mê dô khá-lí-tô đô-xô)

Dhammo khamatu taṃ mama.(*)

(Thăm-mô khá-má-tú tăng má-má)

Nghĩa: 

Con hết lòng thành kính cúi đầu đảnh lễ,

Hai hạng Đức-Pháp-bảo: Pháp học và pháp-hành,

Lỗi lầm nào con đã phạm đến Đức-Pháp-bảo,

Cúi xin Đức-Pháp-bảo xá tội ấy cho con.

(đảnh lễ một lạy)

3-   Bài Kệ Sám Hối Đức-Tăng-Bảo

Uttamaṅgena vande’haṃ,

(Út-tá-măn-ghê-ná voanh-đê-hăng)

Saṃghañca duvidhuttamaṃ.

(Xăng-khăng-chá đú-ví-thút-tá-măng)

Saṃghe yo khalito doso,

(Xăng-khê dô khá-lí-tô đô-xô)

Saṃgho khamatu taṃ mama.(*)

(Xăng-khô khá-má-tú tăng má-má)

Nghĩa:

Con hết lòng thành kính cúi đầu đảnh lễ,

Hai bậc Đức-Tăng-bảo: Thánh-Tăng và phàm-Tăng,

Lỗi lầm nào con đã phạm đến Đức-Tăng-bảo,

Cúi xin Đức-Tăng-bảo xá tội ấy cho con.

(đảnh lễ một lạy)

Bài Kệ Cầu nguyện

Iminā puññakammena,

(Í-mí-na pun-nhá-kam-mê-ná)

Sabbe bhayā vinassantu.

(Xặp-bê phá-gia wí-nát-xăn-tú)

Nibbānaṃ adhigantuṃ hi,

(Níp-ba-năng á-thí-găn-tung hí)

Sabbadukkhā pamuccāmi.

(Xặp-bá-đúc-kha pá-múc-cha-mí)

Nghĩa:

Do nhờ năng lực đại-thiện-tâm sám hối này,

Cầu xin mọi tai họa hãy đều bị tiêu diệt,

Mong chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn,

Con mong sớm giải thoát khổ tử sinh luân-hồi.

Lợi Ích Của Sự Sám Hối Và Cầu Nguyện

Năm điều tai họa (antarāyikadhamma):

1- Kammantarāyika: Tai họa do ác-nghiệp trọng-tội.

2- Kilesantarāyika: Tai họa do phiền-não tà-kiến cố-định.

3- Vipākantarāyika: Tai họa do quả tái-sinh.

4-   Ariyūpavādantarāyika: Tai họa do xúc phạm đến bậc Thánh-nhân.

5-   Aṇāvitikkamantarāyika: Tai họa do phạm giới.(1)

Trong 5 điều tai họa ấy, có 3 điều: tai họa do ác- nghiệp trọng-tội, tai họa do phiền-não tà-kiến cố-định  và tai họa do quả tái-sinh, cả 3 điều tai họa này xảy ra trong kiếp hiện-tại, vô phương cứu chữa, đành phải  chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy mà thôi.

Riêng 2 điều: tai họa do xúc phạm đến bậc Thánh- nhân và tai họa do phạm giới, cả 2 điều tai họa này, ngay trong kiếp hiện-tại, có thể cứu chữa bằng cách làm lễ sám hối lỗi lầm của mình.

* Tai họa do xúc phạm đến bậc Thánh-nhân: Nếu  có những lỗi lầm nào xúc phạm đến Đức-Phật, Đức- Pháp, Đức-Tăng, các bậc Thầy tổ, ông bà, cha mẹ, các bậc Trưởng-lão, các bậc có giới-đức, các bậc ân-nhân, v.v… thì chỉ có phương cách làm lễ sám hối những lỗi lầm ấy của mình đối với các bậc ấy mà thôi. Sau khi làm lễ sám hối xong, người ấy phải luôn tâm niệm không để tái phạm.

Như vậy, người ấy tránh được mọi tai họa, sẽ thành tựu được sự lợi ích, sự tiến hóa trong mọi thiện-pháp, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại lẫn vô lượng kiếp vị-lai.

Vì vậy, lễ sám hối Tam-bảo là điều lợi ích lớn lao.

*   Tai họa do phạm giới: Đối với hạng phàm-nhân vốn có phiền-não còn nặng nề, trong cuộc sống hằng ngày khó tránh khỏi điều phạm giới.

Nếu đã phạm giới dù nặng dù nhẹ thì cũng có thể gây ra tai họa trong kiếp hiện-tại và kiếp vị-lai.

Muốn tránh khỏi những điều tai họa xảy đến cho mình, thì chỉ có phương cách làm lễ sám hối, rồi xin thọ trì giới trở lại, đó là phương cách duy nhất, để cho giới của mình trở nên trong sạch trở lại.

Lễ sám hối là phương cách chung cả cho sa-di, tỳ- khưu lẫn người cận-sự-nam, cận-sự-nữ.

–    Đối với chư tỳ-khưu, trước khi hành tăng-sự như lễ tụng bhikkhupātimokkha “Lễ tụng giới tỳ-khưu hằng tháng vào ngày rằm và ngày cuối tháng, chư tỳ-khưu, mỗi vị đều phải làm lễ sám hối āpatti 2-3 vị lẫn nhau trước, rồi sau đó mới hành-tăng-sự tụng bhikkhu- pātimokkha”. Hoặc mỗi khi vị tỳ-khưu nào biết mình bị phạm giới nào, vị tỳ-khưu ấy nên tìm đến vị tỳ-khưu khác xin làm lễ sám hối giới ấy.

Sau khi đã sám hối xong, vị tỳ-khưu ấy có giới trở lại trong sạch.

–    Đối với sa-di nên sám hối và chịu hành phạt xong, rồi xin thọ phép quy-y Tam-bảo.

–    Đối với hàng cận-sự-nam, cận-sự-nữ nên làm lễ sám hối Tam-bảo xong, rồi mới xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới, hoặc bát-giới uposathasīla hoặc cửu- giới uposathasīla, … Đó là điều hợp pháp, để làm tăng thêm đức-tin và lòng tôn kính Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp- bảo, Đức-Tăng-bảo.

*    Bài kệ cầu nguyện đó là nguyện vọng tha thiết của mình, mong tránh khỏi tai họa và mong sớm chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.

* Lễ xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới theo truyền thống của người Myanmar thật rõ ràng:

–    Người xin thọ phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới, … khẩn khoản thỉnh Ngài Đại-Trưởng-lão hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới, …

Như vậy, đây là một nghi thức người xin khẩn khoản và thỉnh cầu Ngài Đại-Trưởng-lão hướng dẫn phép quy- y Tam-bảo và ngũ-giới, … Đó là cách nên bắt chước theo.

Xin Thọ Trì Phép Quy-Y Tam-Bảo Và Ngũ-Giới

Sau khi đọc 3 bài kệ sám hối Tam-bảo và bài kệ cầu nguyện xong, tất cả mọi người cận-sự-nam, cận-sự-nữ đồng thanh đọc bài xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới như sau:

–   Ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha, pañcasīlaṃ

(á-hăng phăn-tê tí-xá-rá-nê-ná xá-há păn-chá-xi-lăng dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me, thăm-măng gia-cha-mí á-núc-ghá-hăng cát-toa xi-lăng đê-thá mê Bhante. phăn-tê).

–   Dutiyampi, ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha,

(Đú-tí-giăm-pí  á-hăng  phăn-tê  tí-xá-rá-nê-ná xá-há pañcasīlaṃ dhammaṃ yācāmi anuggahaṃ katvā păn-chá-xi-lăng thăm-măng gia-cha-mí á-núc-ghá-hăng cát-toa sīlaṃ detha me, Bhante. xi-lăng  đê-thá  mê phăn-tê). 

– Tatiyampi, ahaṃ Bhante, tisaraṇena saha,

(Tá-tí-giăm-pí á-hăng phăn-tê tí-xá-rá-nê-ná xá-há pañcasīlaṃ dhammaṃ yācāmi anuggahaṃ katvā păn-chá-xi-lăng thăm-măng gia-cha-mí á-núc-ghá-hăng cát-toa sīlaṃ detha me, Bhante. xi- lăng đê-thá mê phăn-tê).

Nghĩa:

– Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, con xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới.

–   Kính bạch Ngài, kính xin Ngài có tâm từ tế độ hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới cho con.

– Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, con xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới.

–     Kính bạch Ngài, kính xin Ngài có tâm từ tế độ hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới cho con, lần thứ nhì.

–    Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, con xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới.

–     Kính bạch Ngài, kính xin Ngài có tâm từ tế độ hướng dẫn phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới cho con, lần thứ ba.