CÁCH THỨC THỌ TỲ KHƯU

Trong Phật giáo, Đức Phật đã chế định ra 8 cách thức thọ Tỳ-khưu Upasampadā.

* Đối với Tỳ-khưu có 5 cách như sau:

– Ehi Bhikkhūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu bằng cách Đức Phật gọi “Ehi Bhikkhu”.

– Saraṇagamanūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu bằng cách thọ phép quy y Tam Bảo.

– Ovādapaṭiggahaṇūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu bằng cách thọ nhận lời giáo huấn của Đức Phật.

– Pañhābyākaraṇūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu bằng cách trả lời đúng câu hỏi của Đức Phật.

– Ñatticatutthakammūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu bằng cách tụng 1 lần Ñatti (Tuyên ngôn) và tiếp theo tụng 3 lần Kammavācā (Thành sự ngôn).

* Đối với Tỳ-khưu ni có 3 cách như sau:

– Garudhammapaṭiggahaṇūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu ni bằng cách thọ nhận 8 trọng pháp.

– Dūtenūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu ni bằng cách nhờ qua người đại diện.

– Aṭṭhavācikūpasampadā: Thọ Tỳ-khưu ni bằng cách hành tăng sự giữa chư Tăng phái: Tỳ-khưu ni Tăng trước, Tỳ-khưu Tăng sau, mỗi phái tụng một lần Ñatti và 3 lần Kammavācā, trở thành 8 lần tụng (aṭṭhavācika).

Giải Thích:

* THỌ TỲ KHƯU (BHIKKHU UPASAMPADĀ):

Đức Phật chế định ban hành phép xuất gia trở thành Tỳ-khưu có 5 cách:

1- Ehi Bhikkhūpasampadā như thế nào?

Người cận sự nam (hoặc đạo sĩ, tu sĩ ngoại đạo) sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng, muốn thọ Tỳ-khưu; người cận sự nam ấy đến hầu Đức Phật, đảnh lễ xin Đức Phật cho phép thọ Tỳ-khưu. Đức Phật dùng Phật nhãn quán xét đến tiền kiếp người cận sự nam ấy, và thấy rõ rằng: “Người cận sự nam ấy là người có ba-la-mật đầy đủ, nhất là hạnh bố thí ba-la-mật, đã từng bố thí 8 thứ vật dụng của Sa môn (tam y, quả bát, dây thắt lưng, dao cạo tóc, ống kim chỉ và đồ lọc nước), và đã phát nguyện trở thành Ehi Bhikkhu”.

Do đó, khi Đức Phật đưa bàn tay phải, chỉ bằng ngón trỏ truyền dạy rằng:

“Ehi Bhikkhu! Svākkhāto dhammo cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāya”.

“Con hãy đến với Như Lai! Con trở thành Tỳ-khưu theo ý nguyện! Chánh pháp mà Như Lai đã thuyết giảng hoàn hảo ở phần đầu, phần giữa, phần cuối; con hãy nên cố gắng tinh tấn thực hành phạm hạnh cao thượng để chứng đắc Arahán Thánh Đạo – Arahán Thánh Quả, để chấm dứt sự khổ tử sinh luân hồi”.

Khi Đức Phật truyền dạy vừa dứt lời, ngay tức thì, người cận sự nam ấy (hoặc đạo sĩ, tu sĩ ngoại đạo) trở thành Tỳ-khưu, có đầy đủ 8 thứ vật dụng của Sa môn, được thành tựu là do quả của phước thiện (thần thông) của mình, vị Tỳ-khưu có tăng tướng trang nghiêm, ngũ căn thanh tịnh, như một vị Tỳ-khưu 60 hạ.

Như vậy gọi là thọ Tỳ-khưu bằng cách gọi: Ehi Bhikkhūpasampadā.

Đại Đức Aññasi Koṇḍañña là vị đầu tiên thọ Tỳ-khưu bằng cách gọi “Ehi Bhikkhu”, cũng là vị Tỳ-khưu đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama, và tiếp theo tuần tự các Ngài Vappa, Ngài Bhaddiya, Ngài Mahānāma, Ngài Assaji cũng đều thọ Tỳ-khưu bằng cách gọi: “Ehi Bhikkhu”.

Chỉ có Đức Phật mới có khả năng cho phép giới tử thọ Tỳ-khưu bằng cách gọi “Ehi Bhikkhu” mà thôi. Ngoài ra, chư bậc Thánh Thanh Văn không có oai lực cho thọ Tỳ-khưu theo cách ấy.

Đức Phật Gotama cho phép giới tử thọ Tỳ-khưu bằng cách gọi “Ehi Bhikkhu” tất cả gồm có 28.647 vị Tỳ-khưu.

– Trong Luật Tạng có 1.344 vị như sau:

Nhóm Pañcavaggī: 5 vị
Đại Đức Yasa và bạn hữu: 56 vị
Nhóm Bhaddavaggī anh em và bạn hữu: 1.030 vị
Nhị vị Aggasāvaka và nhóm đệ tử: 252 vị
Đại Đức Aṅgulimāla: 1 vị

– Trong Kinh Tạng có 27.303 vị như sau:

Bàlamôn Sela và nhóm đệ tử: 301 vị
Đức vua Mahākappina và các quan cận thần: 1.001 vị
Dân thành Kapilavatthu: 10.000 vị
Bàlamôn Pārāyanika và nhóm đệ tử: 16.001 vị

Gồm có tất cả 28.647 vị Tỳ-khưu Ehi Bhikkhu.

2- Saraṇagamanūpasampadā như thế nào?

Chư bậc Thánh Tăng(mỗi vị một con đường) đi khắp nơi thuyết pháp để tế độ chúng sinh, nếu có người cận sự nam nào có đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng, có ý nguyện muốn thọ Tỳ-khưu, thì Đức Phật cho phép chư bậc Thánh Tăng rằng:

“Anujānāmi bhikkhave, imehi tīhi saraṇagamanehi pabbajjaṃ upasampadaṃ”.

Này chư Tỳ-khưu, Như Lai cho phép thọ Sadi, Tỳ-khưu bằng cách cho thọ phép quy y Tam Bảo.

Giới tử thọ Sadi, Tỳ-khưu trước tiên phải cạo tóc, râu, mặc y cà sa màu lõi mít, để chừa vai bên phải, ngồi chồm hổm, chắp 2 tay để trên trán xin thọ phép quy y Tam Bảo: “Quy y Phật Bảo, Quy y Pháp Bảo, Quy y Tăng Bảo”, bằng tiếng Pāḷi, đọc theo vị Thầy tế độ như sau:

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Dutiyampi, Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi, Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi, Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tatiyampi, Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi, Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi, Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Khi người giới tử nào thọ phép quy y Tam Bảo xong, người giới tử ấy trở thành Tỳ-khưu.

Đó gọi là thọ Tỳ-khưu bằng cách thọ phép quy y Tam Bảo.

3- Ovādapaṭiggahaṇūpasampadā như thế nào?

Đức Phật giáo huấn Đại Đức Mahākassapa 3 điều rằng:

– “Trong Phật giáo này, này Kassapa, con nên thực hành rằng: trước tiên con nên có tâm hổ thẹn tội lỗi và ghê sợ tội lỗi đối với vị cao hạ, vị bằng hạ, vị nhỏ hạ.

– Trong Phật giáo này, này Kassapa, con nên thực hành rằng: con nên lắng nghe chánh pháp, nên cung kính mọi chánh pháp ấy, ghi nhớ đầy đủ mọi chánh pháp ấy.

– Trong Phật giáo này, này Kassapa, con nên thực hành rằng: con nên tiến hành đề mục niệm thân”.

Khi Đại Đức Mahākassapa thọ nhận 3 điều giáo huấn của Đức Phật, chính là sự thành tựu thọ Tỳ-khưu của Ngài.

Đó gọi là trường hợp thọ Tỳ-khưu bằng cách thọ nhận lời giáo huấn của Đức Phật.

Đây là trường hợp đặc biệt chỉ riêng cho Ngài Đại Đức Mahākassapa mà thôi.

4- Pañhābyākaraṇūpasampadā như thế nào?

Tại chùa Pubbārāma, Đức Phật đang ngự đi kinh hành, khi ấy Sadi tên là Sopāka đến hầu Đức Phật. Đức Phật bèn hỏi Sadi Sopāka câu hỏi liên quan đến đề mục asubha “bất tịnh” rằng:

“Uddhamātakasaññā’ti vā Sopāka, rūpasaññā’ti vā ime dhammā nānatthā nānā byañjanā, udahu ekatthā byañjanameva nānā…”

“Này Sopāka, niệm tưởng tử thi 2-3 ngày sình lên hoặc niệm tưởng sắc pháp, hai pháp này nghĩa khác nhau, danh từ gọi khác nhau? Hay nghĩa giống nhau, danh từ gọi khác nhau?”.

Vị Sadi Sopāka mới lên 7 tuổi, bạch với Đức Phật rằng:

“Uddhamātakasaññā’ti vā Bhagavā rūpasaññā’ti vā ime dhammā ekatthā byañjanameva nānā….”

“Kính bạch Đức Thế Tôn, niệm tưởng tử thi 2-3 ngày sình lên hoặc niệm tưởng sắc pháp, nghĩa giống nhau, chỉ có danh từ gọi khác nhau. Bạch Ngài”.

Đức Phật hài lòng câu trả lời của Sadi Sopāka, nên Ngài cho phép Sadi Sopāka trở thành Tỳ-khưu.

Đó gọi là thọ Tỳ-khưu bằng cách trả lời đúng câu hỏi của Đức Phật.

Đây là trường hợp đặc biệt chỉ riêng cho vị Sopāka mà thôi.

5- Ñatticatutthakammūpasampadā như thế nào?

Giáo pháp của Đức Phật càng ngày càng phát triển, Tỳ-khưu càng ngày càng đông. Cho nên, Đức Phật bỏ cách thọ Tỳ-khưu bằng cách thọ phép quy y Tam Bảo rằng:

“Yā sā bhikkhave, mayā tīhi saraṇagamanehi upasampadā anuññatā, taṃ ajjatagge paṭikkhipāmi.
Anujānāmi bhikkhave, ñatticatutthena kammena upasampādetuṃ”
.

“Này chư Tỳ-khưu, Như Lai đã cho phép thọ Tỳ-khưu bằng cách thọ Tam quy, kể từ nay về sau, Như Lai bỏ cách thọ Tỳ-khưu ấy.

Này chư Tỳ-khưu, Như Lai cho phép thọ Tỳ-khưu bằng cách tụng một lần Ñatti (Tuyên ngôn) và tiếp theo tụng 3 lần Kammavācā (Thành sự ngôn), gọi là ñatticatuttha- kammavācā”.

Cách thọ Tỳ-khưu này bắt đầu từ Đại đức Rādha và được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Hiện nay, trong các nước Phật giáo theo truyền thống Theravāda, như các nước Tích Lan(Srilankā), nước Miến Điện (Myanmar), nước Thái Lan, nước Campuchia, nước Lào Phật giáo Nguyên Thuỷ Theravāda Việt Nam… mặc dầu mỗi nước có ngôn ngữ khác nhau, song tất cả đều căn cứ theo Tạng Luật Pāḷi làm cơ bản. Cho nên các nước Phật giáo Theravàda vẫn cố gắng giữ gìn, duy trì y nguyên theo truyền thống thọ Sadi theo cách thọ phép quy y Tam Bảo bằng tiếngPāḷi, vị Thầy tế độ hướng dẫn thọ phép quy y Tam Bảo, giới tử thọ phép quy y Tam Bảo, cả hai bên đều phải phát âm từng chữ, từng câu, đúng theo văn phạm Pāḷi gọi là “Ubhato suddhi”.

Và nghi thức thọ Tỳ-khưu, chư Tỳ-khưu Tăng từ 5 vị trở lên hội họp tại nơi Sīmā. Có 2 hoặc 3 vị Tỳ-khưu luật sư tụng ñatticatutthakammavācā: Tụng một lần Ñatti (Tuyên ngôn) và tiếp theo tụng 3 lần Kammavācā (Thành sự ngôn), phải phát âm từng chữ, từng câu đúng theo văn phạm Pāḷi.

Đó gọi là thọ Tỳ-khưu bằng cách tụng ñatticatutthakammavācā.

Ngoài cách thọ Tỳ-khưu này ra, còn lại tất cả mọi cách hành Tăng sự (Saṃghakamma)khác, chư Tỳ-khưu Tăng hội họp tại Sīmā cũng tụng ñattikammavācā bằng tiếng Pāḷi, hầu như giống hệt nhau, kể cả tụng những bài kinh Parittapāḷi nữa.

Đây là đặc tính của các nước Phật giáo theo truyền thống Theravāda, bởi vì các nước này đều căn cứ y theo Tam Tạng Pāḷi làm nền tảng cơ bản chính.

THỌ TỲ KHƯU NI (BHIKKHUNĪ UPASAMPADĀ)

Đức Phật chế định ban hành phép thọ Tỳ-khưu ni có 3 cách:

1- Garudhammapaṭiggahaṇūpasampadā như thế nào?

Thời kỳ Đức Phật ngự tại tịnh xá trong khu rừng lớn thuộc xứ Vesalī,Mahāpajā-patigotamī cùng nhóm 500 cận sự nữ dòng Sakya đứng trước cổng Tịnh xá buồn tủi khóc than, vì Đức Phật không cho phép phái nữ thọ Tỳ-khưu ni.

Đại Đức Ānanda nhìn thấy tình cảnh thật đáng thương như vậy, nên Ngài vào xin với Đức Phật cho phép phái nữ được thọ Tỳ-khưu ni. Đức Phật truyền dạy: “Nếu dì mẫu Mahāpajāpatigotamī chấp thuận thọ nhận 8 trọng pháp (garudhamma), thì đó là sự thọ Tỳ-khưu ni, của dì mẫu”.

Mahāpajāpatigotamī cung kính chấp thuận, thọ nhận 8 trọng pháp mà Đức Phật đã chế định ban hành.

Đó là thọ Tỳ-khưu ni bằng cách thọ nhận 8 trọng pháp.

Đây là trường hợp đặc biệt chỉ riêng cho Mahāpajāpatigotamī mà thôi. Đại Đức Tỳ-khưu ni Mahāpajāpatigotamī là vị Tỳ-khưu ni đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama.

2- Dūtenūpasampadā như thế nào?

Trường hợp cô Aḍḍhakāsī, trước khi thọ Tỳ-khưu ni, cô là một kỹ nữ nổi tiếng. Nay nữ giới tử Aḍḍhakāsī đã thọ Tỳ-khưu ni giữa Tỳ-khưu ni Tăng rồi, nữ giới tử Aḍḍhakāsī chuẩn bị lên đường đi đến kinh thành Sāvatthi để hầu Đức Phật và xin thọ phép thọ Tỳ-khưu ni giữa Tỳ-khưu Tăng. Cô hay tin có một nhóm trai trẻ ăn chơi sẽ đón đường bắt cô. Do đó, cô không dám đi đến hầu Đức Phật, cô nhờ một người đại diện đến bạch với Đức Phật về sự khó khăn, trở ngại của cô trong việc đến xin phép thọ Tỳ-khưu ni giữa Tỳ-khưu Tăng. Đức Phật biết như vậy, nên đặc biệt cho phép cô rằng:

“Anujānāmi bhikkhave, dūtena pi upasampadetuṃ”.

“Này chư Tỳ-khưu, Như Lai cho phép nữ giới tử Aḍḍhakāsī thọ Tỳ-khưu ni bằng cách nhờ qua người đại diện”.

Đó gọi là thọ Tỳ-khưu ni bằng cách nhờ qua người đại diện.

Đây là trường hợp đặc biệt chỉ riêng cho nữ giới tử Aḍḍhakāsī mà thôi.

3- Aṭṭhavācīkūpasampadā như thế nào?

Trước khi thọ Tỳ-khưu ni, giới tử là Sikkhāmānā được tu tập giữ gìn 6 giới hoàn toàn trong sạch và tròn đủ suốt 2 năm (nếu phạm giới nào, phải bắt đầu trở lại). Khi giới tử Sikkhāmānāđủ 2 năm rồi, được phép thọ giới Tỳ-khưu ni, gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Chư Tỳ-khưu ni Tăng hội họp tại nơi Sīmā (ranh giới Sīmā), vị Tỳ-khưu ni luật sư tụng một lần Ñatti (Tuyên ngôn) và tiếp theo tụng 3 lần Kammavācā (Thành sự ngôn), gọi là ñatticatutthakammavācā.

Giai đoạn thứ hai: Giới tử Tỳ-khưu ni ấy đến trình chư Tỳ-khưu Tăng hội họp tại nơi Sīmā, vị Tỳ-khưu luật sư tụng 1 lần Ñatti (Tuyên ngôn) và tiếp theo tụng 3 lần Kammavācā(Thành sự ngôn), gọi là ñatticatutthakammavācā.

Như vậy, sự thọ Tỳ-khưu ni phải hành Tăng sự giữa chư Tăng 2 phái: Chư Tỳ-khưu ni Tăng và chư Tỳ-khưu Tăng, mỗi phái đều tụng ñatticatutthakammavācā, gồm đủ 8 lần, gọi là Aṭṭhavācīkūpasampadā.

Cách thọ Tỳ-khưu ni này áp dụng chung cho tất cả Tỳ-khưu ni.

Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, bà Mahāpajāpatigotamī cùng nhóm 500 cận sự nữ dòng Sakya đến xin Đức Phật thọ Tỳ-khưu ni. Đặc biệt bà Mahāpajāpatigotamī cung kính chấp thuận thọ nhận 8 trọng pháp của Đức Phật đã ban hành, đó là sự thọ Tỳ-khưu ni của bà Mahāpajāpatigotamī. Còn nhóm 500 cận sự nữ dòng Sakya, Đức Phật cho phép thọ Tỳ-khưu ni chỉ có chư Tỳ-khưu Tăng tụng 1 lần Ñatti (Tuyên ngôn) và tiếp theo tụng 3 lần Kammavācā(Thành sự ngôn), gọi là ñatticatutthakammavācā, bởi vì, khi ấy chưa có Tỳ-khưu ni Tăng. Tất cả nhóm 500 cận sự nữ dòng Sakya trở thành Tỳ-khưu ni.

Kể từ đó về sau, nghi thức thọ Tỳ-khưu ni giữa chư Tăng 2 phái: Chư Tỳ-khưu ni Tăng và chư Tỳ-khưu Tăng, mỗi phái tụng ñatticatutthakammavācā, gồm đủ 8 lần.

Do đó, gọi là Aṭṭhavācīkūpasampadā.

Tám trọng pháp là:

1) Dầu Tỳ-khưu ni có 100 hạ, cũng phải đứng dậy đón tiếp, chắp tay cung kính đảnh lễ Tỳ-khưu vừa mới thọ Tỳ-khưu trong ngày hôm ấy.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

2) Tỳ-khưu ni không nên an cư nhập hạ nơi chùa không có Tỳ-khưu Tăng.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

3) Tỳ-khưu ni luôn luôn quan tâm 2 điều:

– Hỏi ngày Uposatha: ngày lễ tụng giới bổn.

– Nghe lời giáo huấn của Tỳ-khưu Tăng hằng nửa tháng một lần.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

4) Tỳ-khưu ni sau khi an cư nhập hạ xong, phải làm lễ Pavāraṇā: thỉnh mời giữa chư Tăng 2 phái “Tỳ-khưu ni Tăng và Tỳ-khưu Tăng”.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

5) Tỳ-khưu ni phạm tội nặng (saṃghādisesa), phải bị hành phạt mānatta suốt 15 ngày giữa chư Tăng 2 phái “Tỳ-khưu ni Tăng và Tỳ-khưu Tăng”.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

6) Giới tử là Sikkhāmānāđã thực tập 6 giới trong sạch và đầy đủ suốt 2 năm, rồi mới được làm lễ thọ Tỳ-khưu ni giữa chư Tăng 2 phái “Tỳ-khưu ni Tăng trước và Tỳ-khưu Tăng sau”.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

7) Tỳ-khưu ni không được chửi rủa mắng nhiếc Tỳ-khưu Tăng trong bất cứ trường hợp nào.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

8) Sau khi thọ Tỳ-khưu ni rồi, cấm dạy Tỳ-khưu Tăng, chỉ có Tỳ-khưu dạy Tỳ-khưu ni mà thôi.

Đó là điều mà Tỳ-khưu ni phải tôn trọng, cung kính thực hành theo cho đến trọn đời.

Tỳ-khưu đầu tiên và cuối cùng của Đức Phật

Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, Ngài thuyết pháp tế độ chúng sinh có duyên lành nên tế độ suốt 45 hạ (năm: vassa).

Vào ngày rằm tháng sáu (âm lịch), Đức Phật thuyết pháp bài kinh Chuyển Pháp Luân đầu tiên, tế độ nhóm 5 Tỳ-khưu có Ngài Koṇḍanna trưởng nhóm. Sau khi lắng nghe bài kinh này xong, chỉ có Ngài Koṇḍanna là vị đầu tiên chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo – Nhập Lưu Thánh Quả và Niết Bàn trở thành bậc Thánh Nhập Lưu(Sotapanna) đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama. Ngài Koṇḍanna xin Đức Phật cho phép thọ Sadi-Tỳ-khưu.

Đức Phật cho phép Ngài Đại đức Koṇḍanna thọ Tỳ-khưu theo cách thức gọi “Ehi Bhikkhu!… khi Đức Phật vừa dứt lời, Ngài Đại đức Koṇḍanna trở thành Tỳ-khưu có đầy đủ 8 thứ vật dụng của Tỳ-khưu, có tăng tướng trang nghiêm, ngũ căn thanh tịnh như một vị Tỳ-khưu có 60 hạ.

Như vậy, Ngài Đại đức Koṇḍanna là vị Tỳ-khưu Thánh Tăng đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama; đồng thời Tam Bảo: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo đầy đủ trọn vẹn xuất hiện trên thế gian.

Từ đó, Đức Phật thuyết pháp tế độ chúng sinh suốt 45 năm, đến ngày rằm tháng tư (âm lịch), tại khu rừng Kusinārā, trước khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn, có vị Đạo sĩ ngoại đạo Subhadda đến hầu Đức Phật, xin phép hỏi những điều thắc mắc mà chưa tìm gặp một vị Đạo sư nào có thể giải đáp làm cho ông thỏa mãn được.

Đức Phật biết rõ vị Đạo sĩ Subhadda này có duyên lành với Ngài, chỉ có Ngài mới tế độ Đạo sĩ Subhadda được, nên Ngài đến khu rừng Kusinārā này để tịch diệt Niết Bàn, chờ tế độ Đạo sĩ Subhadda người đệ tử cuối cùng của Ngài.

Vị Đạo sĩ Subhadda bạch hỏi những điều hoài nghi, nhưng Đức Phật không trực tiếp giải đáp câu hỏi, mà Ngài thuyết giảng trong giáo pháp của Ngài, có pháp hành bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh, nên mới có bậc Thánh thứ nhất mới là bậc Thánh Nhập Lưu, bậc Thánh thứ nhì là bậc Thánh Nhất Lai, bậc Thánh thứ ba là bậc Thánh Bất Lai và bậc Thánh thứ tư là bậc Thánh Arahán cao thượng nhất. Đạo sĩ Subhadda lắng nghe phát sinh đức tin trong sạch trong giáo pháp của Đức Phật, xin Đức Phật cho phép thọ Sadi – Tỳ-khưu trong giáo pháp của Đức Phật.

Sau khi trở thành Tỳ-khưu không lâu, vị Tỳ-khưu Subhadda tiến hành thiền tuệ liền chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo – 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán trước khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn.

Như vậy, Ngài Đại đức Subhadda là vị Tỳ-khưu cũng là bậc Thánh Arahán cuối cùng của Đức Phật Gotama.

* Đức Tăng có hai hạng hiện hữu

– Thánh Tăng (Ariyasaṃgha)    – Phàm Tăng (Puthujjanasaṃgha)

1- Thánh Tăng là thế nào?

Thánh Tăng (Ariyasaṃgha) gồm có nhiều Tỳ-khưu Thánh Nhân (Ariyabhikkhu), đã diệt đoạn tuyệt được phiền não, tham ái, ác pháp… tùy theo khả năng Thánh Đạo Tuệ của mỗi bậc Thánh Nhân.

Tỳ-khưu Thánh Nhân có 4 bậc

Tỳ-khưu Thánh Nhập Lưu mới là bậc Thánh thứ nhất đã diệt đoạn tuyệt được hai loại phiền não: tà kiến, hoài nghi, và các pháp khác liên quan đến tà kiến và hoài nghi.

Tỳ-khưu Thánh Nhất Lai là bậc Thánh thứ nhì đã diệt đoạn tuyệt được một loại phiền não sân loại thô và các ác pháp khác liên quan đến tâm sân loại thô.

Tỳ-khưu Thánh Bất Lai là bậc Thánh thứ ba đã diệt đoạn tuyệt được một loại phiền não sân loại vi tế và các ác pháp khác liên quan đến tâm sân loại vi tế.

Tỳ-khưu Thánh Arahán là bậc Thánh thứ tư đã diệt đoạn tuyệt được tất cả mọi phiền não còn lại là tham, si, ngã mạn, phóng tâm, buồn ngủ, không biết hổ thẹn tội lỗi, không biết ghê sợ tội lỗi; tất cả mọi tham ái và tất cả mọi ác pháp không còn dư sót.

2- Phàm Tăng là thế nào?

Phàm Tăng (Puthujjanasaṃgha) gồm có nhiều Tỳ-khưu phàm nhân (puthujjana) từ 4 – 5 vị trở lên, chưa diệt đoạn tuyệt được phiền não, tham ái, ác pháp nào.

Phàm nhân có hai hạng:

Andhaputhujjana: Phàm nhân tối trí là người không có trí tuệ, không học hỏi nghiên cứu các pháp học như tứ niệm xứ, Tứ Thánh Đế, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới v.v…

Kalyāṇaputhujjana: Phàm nhân sáng trí, là người có trí tuệ sáng suốt học hỏi nghiên cứu các pháp học như Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới v.v…

Khả năng bậc Thánh Nhân

Chư bậc Thánh Nhân đã chứng đắc bậc Thánh bằng nhau, có khả năng biết lẫn nhau, qua cuộc đàm đạo với nhau, hoặc bằng tha tâm thông của bậc Thánh Nhân.

Chư Thánh bậc thấp không có khả năng biết chư Thánh bậc cao, mà chỉ có chư Thánh bậc cao có khả năng biết chư Thánh bậc thấp mà thôi.

Tất cả mọi hạng phàm nhân hoàn toàn không có khả năng biết đến chư Thánh Nhân; bởi vì, muốn biết chư Thánh Nhân phải biết bằng tuệ nhãn (paññācakkhu), không phải thấy bằng mắt thường (maṃsacakkhu) hoặc trí tuệ của hạng phàm nhân.

Đức Tăng & 4 Bậc Thánh Tăng
Đức Tăng Suy Đồi

Nền Tảng Phật Giáo

Phước thiện pháp thí thanh cao này của mỗi người chúng con, xin làm duyên lành dẫn dắt mỗi người chúng con đến chứng đắc Arahán Thánh Đạo - Arahán Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não trầm luân, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Nền Tảng Phật Giáo has 640 posts and counting. See all posts by Nền Tảng Phật Giáo

Nền Tảng Phật Giáo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *